Chuyển đổi số đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “làm cho có” sang tạo ra giá trị thực chất. Theo ông Nguyễn Tử Quảng, điểm nghẽn không nằm ở việc thiếu công nghệ, mà ở quy hoạch, kiến trúc, dữ liệu, năng lực triển khai và tư duy quản trị.
Kế hoạch số 05 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt mục tiêu trong 100 ngày làm việc (từ 10/7 đến 30/11/2026) tập trung xử lý 10 nhóm điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, từ đó tạo thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, quản trị, điều hành và phục vụ của 4 khối: Đảng, Quốc hội, Chính phủ và MTTQ.
Các bài viết của VietTimes về Kế hoạch 100 ngày gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia sẽ phản ánh thực trạng hiện nay, lý giải nguyên nhân và đề xuất các giải pháp với từng vướng mắc.
Vì sao nhiều giải pháp chưa hiệu quả?
Kế hoạch 05 xác định nguyên tắc nghiệm thu rất rõ: không chấp nhận sản phẩm chỉ tồn tại trên giấy, phải có dữ liệu thật, người dùng thật và hiệu quả thật. Từ kinh nghiệm triển khai các nền tảng số quy mô lớn, theo ông, đâu là điều kiện tiên quyết để một sản phẩm số vượt qua "cái bẫy hoàn thành hình thức"?
-Triển khai một giải pháp công nghệ, đặc biệt là liên quan đến dữ liệu, cũng giống như việc quy hoạch, thiết kế một khu đô thị hay các tòa nhà bên trong. Nó đòi hỏi phải có phương pháp đúng, công cụ đúng, đặc biệt là khâu quy hoạch và kiến trúc.
Tuy nhiên, đáng tiếc là trong nhiều năm qua, hầu hết các đơn vị cung cấp giải pháp tại Việt Nam lại không tuân thủ và không làm tốt điều này. Sản phẩm phần mềm hay công nghệ vốn là những thứ vô hình, nên khi nhà cung cấp giao một sản phẩm chất lượng kém, phía chủ đầu tư ("chủ nhà") cũng rất khó nhận ra ngay.
Nếu là một tòa nhà hay một khu đô thị xây lên bị sập xệ, nhếch nhác hay đổ vỡ thì ai cũng nhìn thấy và cảm nhận được vì nó hữu hình. Nhưng trong lĩnh vực phần mềm, tình trạng thường xuyên diễn ra là "chủ nhà" không hề biết mình đang nhận một sản phẩm tồi, một bản quy hoạch hay thiết kế kém chất lượng. Đến khi không vận hành được, họ cũng không biết lỗi do đâu để yêu cầu nhà cung cấp chịu trách nhiệm, thậm chí lại tự nhận lỗi về phía mình. Chuyển đổi số nói riêng và khoa học công nghệ nói chung phức tạp là ở chỗ đó: Tiềm năng rất lớn, nhưng không dễ để thành công.
Quay trở lại câu hỏi, để sản phẩm thực sự đi vào vận hành và tránh "bẫy hình thức", điều kiện tiên quyết là phải làm một cách bài bản: từ quy hoạch, kiến trúc, công cụ triển khai cho đến việc chọn đúng nhà cung cấp có năng lực.
Đặc biệt, với những công trình, hệ thống đủ lớn, bắt buộc phải có vai trò của Kiến trúc sư trưởng hay Tổng công trình sư, những người thực sự am hiểu toàn diện từ quy hoạch, thiết kế cho đến phương pháp triển khai. Làm đúng ngay từ những nền tảng cốt lõi đó thì sản phẩm mới có dữ liệu thật, người dùng thật và tạo ra hiệu quả thực sự.

Thực tế cho thấy không ít dự án CNTT trong khu vực công từng rơi vào tình trạng "xây xong nhưng không ai dùng" hoặc vận hành một thời gian rồi bị bỏ quên. Theo ông, quy trình từ khảo sát nhu cầu, thiết kế, kiểm thử đến triển khai cần thay đổi như thế nào để ngay từ ngày đầu, cán bộ và người dân có động lực sử dụng hằng ngày thay vì bị ép sử dụng?
-Như tôi đã chia sẻ, nguyên nhân cốt lõi nằm ở việc nhiều nhà cung cấp tạo ra những sản phẩm chưa bảo đảm chất lượng.
Nếu các sản phẩm phần mềm có thể "hiện hình" trong thực tế, nó sẽ giống như một khu đô thị mới xây xong đã nhếch nhác, xuống cấp; hoặc giống như một ngôi nhà xây lên mà thiếu bản thiết kế chuẩn nên công năng hoàn toàn không đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Kết quả là dù tốn kém rất nhiều chi phí, hệ thống cuối cùng vẫn không thể vận hành hiệu quả. Đây chính là hình ảnh phản chiếu rất thực tế của nhiều dự án công nghệ hiện nay.
Sai lầm lớn khi lấy nghiệp vụ làm trung tâm
Một trong những nhiệm vụ khó nhất của Kế hoạch 05 là làm sạch, chuẩn hóa và liên thông các cơ sở dữ liệu lớn như VNeID, cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, Sổ tay đảng viên... Theo ông, đâu là giải pháp kỹ thuật hiệu quả để đối soát và hợp nhất dữ liệu một cách tự động, chính xác nhưng vẫn bảo đảm các hệ thống hiện hữu hoạt động liên tục, không bị gián đoạn?
-Để nói về vấn đề này, tôi xin tiếp tục sử dụng hình ảnh so sánh với một khu đô thị. Giả thiết chúng ta có một đô thị phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử: Có những khu vực đã cũ kỹ, sập xệ nhưng cũng có những khu mới được xây dựng rất hiện đại. Đó là thực tế khách quan của quá trình phát triển. Bây giờ, mong muốn của chúng ta là cải tạo toàn bộ để trở thành một đô thị khang trang, văn minh và hiện đại.
Chúng ta không thể đòi hỏi "cho tôi một mảnh đất trống để xây dựng đô thị mới rồi chuyển dân về ở", mà bắt buộc phải thực hiện việc nâng cấp, chỉnh trang ngay trên chính hiện trạng đang có. Thực tế của Hà Nội thời gian qua cũng vậy: Trải qua chiều dài lịch sử, thành phố có những khu vực đẹp và chưa đẹp, nhưng chúng ta vẫn đang từng bước hướng tới một thủ đô văn minh, hiện đại. Muốn làm được điều đó, công tác quy hoạch, thiết kế dựa trên hiện trạng phải được đặt lên hàng đầu và tuân thủ đúng phương pháp.
Qua quan sát hơn một thập kỷ qua, tôi đã kiên trì vận động và tư vấn thay đổi tư duy này. Vừa qua, nguyên tắc "Lấy dữ liệu làm trung tâm" (Data-Centric) đã được đưa vào Khung kiến trúc Chính phủ điện tử/chính quyền số quốc gia, thay thế cho phương pháp cũ là "Lấy nghiệp vụ làm trung tâm".
Phương pháp lấy nghiệp vụ làm trung tâm trước đây là một sai lầm rất lớn của đa số các đơn vị cung cấp giải pháp tại Việt Nam, khiến các hệ thống càng xây dựng thêm thì càng manh mún, vụn vặt. Bkav đã liên tục theo đuổi, tư vấn để điều chỉnh những điểm chưa hợp lý đó, và đến nay quan điểm chuẩn xác này đã được ghi nhận rõ ràng trong các văn bản kiến trúc cũng như quy định pháp luật.
Vấn đề còn lại hiện nay là khâu thực hành cùng các công cụ, giải pháp triển khai. Khi đã áp dụng đúng phương pháp Data-Centric và tập trung cao độ vào quy hoạch, thiết kế, chúng ta có thể vừa nâng cấp, chuẩn hóa hệ thống dữ liệu một cách bài bản, vừa bảo đảm các hoạt động kinh tế - xã hội của người dân và chính quyền vẫn diễn ra bình thường, hoàn toàn tương tự như việc cải tạo một đô thị đang vận hành.
Bảo vệ dữ liệu tập trung như thế nào?
Kế hoạch 05 yêu cầu 100% hệ thống thông tin từ cấp độ 3 trở lên phải kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát 24/7 với Trung tâm An ninh mạng quốc gia, đồng thời xây dựng "Bản đồ cấp độ an ninh mạng". Theo ông, cơ chế này sẽ tạo ra bước chuyển như thế nào trong tư duy phòng thủ mạng của các cơ quan nhà nước: từ bị động ứng phó sang chủ động phát hiện và ngăn chặn rủi ro?
-Tôi đánh giá rất cao các văn bản gần đây của Trung ương về chuyển đổi số nói riêng và khoa học công nghệ nói chung. Theo tôi, đây là những văn bản có chất lượng rất cao, thể hiện tư duy chiến lược và cách tiếp cận bài bản. Đặc biệt, các nguyên tắc được đưa ra trong đợt này là những nguyên tắc cốt lõi, được diễn đạt rất rõ ràng, minh bạch và mang tính định hướng chuẩn mực.
Khi chúng ta kết nối và chia sẻ dữ liệu tốt hơn, lợi ích mang lại là rất lớn. Dữ liệu sẽ được tập trung, liên thông và khai thác hiệu quả hơn, từ đó phục vụ tốt hơn cho phát triển kinh tế, quản trị nhà nước và các hoạt động xã hội. Đây là một nguồn lực có giá trị rất lớn đối với sự phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, ở góc độ an ninh mạng, càng tập trung và kết nối thì yêu cầu bảo vệ càng phải được nâng lên tương ứng. Nếu một hệ thống bị xâm nhập, kẻ tấn công có thể lợi dụng để leo thang đặc quyền, từ một hệ thống này sang hệ thống khác, từ đó tiếp cận được khối lượng dữ liệu lớn hơn rất nhiều so với trước đây, khi dữ liệu còn phân tán. Nói cách khác, giá trị của dữ liệu càng lớn thì nguy cơ và mức độ tác động của các cuộc tấn công cũng càng cao.
Chính vì vậy, nguyên tắc được đặt ra trong Nghị quyết về việc phải bảo đảm an ninh, an toàn ngay từ quá trình xây dựng và vận hành các hệ thống số là hết sức đúng đắn và cần thiết. Đây không chỉ là yêu cầu về mặt kỹ thuật mà còn là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi số có thể phát triển bền vững và tạo dựng được niềm tin trong xã hội.

Càng tập trung và kết nối dữ liệu để chuyển đổi số thì yêu cầu bảo vệ càng phải được nâng lên tương ứng.
Khi dữ liệu được liên thông giữa 4 khối cơ quan gồm Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguy cơ rò rỉ dữ liệu hoặc tấn công chuỗi cung ứng cũng gia tăng. Theo ông, mô hình Zero Trust cùng những công nghệ nào cần được áp dụng để vừa bảo đảm chia sẻ dữ liệu thông suốt, vừa giữ vững an toàn thông tin ở mức cao nhất?
-Như tôi đã phân tích, dữ liệu càng được kết nối và chia sẻ thì giá trị mang lại cho công tác chỉ đạo, điều hành và phát triển kinh tế - xã hội càng lớn. Nhưng đó cũng là một nguyên lý: dữ liệu càng tập trung thì yêu cầu bảo đảm an ninh mạng càng phải cao hơn. Nếu một hệ thống bị xâm nhập, kẻ tấn công có thể leo thang đặc quyền, mở rộng phạm vi tấn công và tiếp cận lượng dữ liệu lớn hơn rất nhiều so với trước đây.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng an ninh mạng không phải là rào cản của liên thông dữ liệu, mà chính là điều kiện để liên thông diễn ra an toàn và bền vững. Chỉ khi có cơ chế bảo vệ đủ tin cậy, các cơ quan mới sẵn sàng chia sẻ dữ liệu với nhau.
Về giải pháp, theo tôi cần triển khai đồng bộ 4 nguyên tắc cốt lõi. Thứ nhất là vệ sinh an ninh mạng (Cyber Hygiene) - bảo vệ 100% thiết bị, cập nhật bản vá, quản lý tài khoản và đánh giá an toàn thông tin định kỳ. Thứ hai là không tin tưởng mặc định (Zero Trust) - mọi truy cập đều phải được xác thực và cấp quyền theo nguyên tắc đặc quyền tối thiểu. Thứ ba là phòng thủ chiều sâu (Defense in Depth) - nhiều lớp bảo vệ để một điểm bị xâm nhập không dẫn đến sự cố trên diện rộng. Và cuối cùng là phòng thủ chủ động (Active Defense) - giám sát liên tục, phát hiện và xử lý nguy cơ ngay từ sớm.
Các nguyên tắc này đã được thể hiện đầy đủ trong các quy định mà Chính phủ đã ban hành hiện nay. Theo tôi, điều quan trọng nhất lúc này không phải là thiếu công nghệ, mà là triển khai đồng bộ và kiểm chứng hiệu quả trên thực tế. An toàn thông tin, an ninh không gian mạng phải được chứng minh bằng năng lực phòng thủ thực sự, chứ không chỉ bằng quy trình hay hồ sơ.
2 ưu tiên cốt lõi để bứt phá
Lần đầu tiên, tiến độ thực hiện nghị quyết được giám sát trực tuyến thông qua Hệ thống theo dõi nghị quyết, gắn với KPI/OKR của người đứng đầu. Theo ông, cần thiết kế cơ chế thu thập dữ liệu và đánh giá như thế nào để bảng điều hành số phản ánh đúng chất lượng thực thi theo thời gian thực, thay vì chỉ đẹp về số liệu hoặc phục vụ mục tiêu báo cáo?
-Thực ra, việc giám sát trực tuyến quá trình thực hiện nghị quyết đã được triển khai từ hơn một năm nay. Đúng là đôi khi vẫn xuất hiện những biểu hiện mang tính hình thức. Tuy nhiên, điểm mới lần này là việc áp dụng OKR và KPI. Đây là phương pháp mang tính khoa học giúp đo lường chính xác kết quả của từng cán bộ, công chức, từ đó chống lại bệnh thành tích.
Tuy nhiên, đây là một hệ thống vô cùng phức tạp. Nó không đơn thuần là bài toán về công nghệ, mà cốt lõi là bài toán về quản trị, tổ chức và phương pháp quản lý.
Là một trong những đơn vị tham gia thiết kế các hệ thống dạng này, chúng tôi hy vọng giải pháp sẽ góp phần đưa các kế hoạch lớn đi vào thực chất. Không dừng lại ở đó, hệ thống còn hướng tới việc đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị công cũng như chất lượng nguồn nhân lực trong khối nhà nước.
Chiến dịch 100 ngày có thể tạo cú hích mạnh cho chuyển đổi số, nhưng điều quan trọng hơn là duy trì được động lực sau khi chiến dịch kết thúc. Theo ông, hệ thống chính trị cần chuẩn hóa quy trình, dữ liệu và các công cụ quản trị số như thế nào để những kết quả đạt được không chỉ dừng ở "100 ngày cao điểm" mà trở thành năng lực vận hành thường xuyên của bộ máy?
-Chúng ta hãy nhìn vào ví dụ về việc chỉnh trang và nâng cấp đô thị. Như Hà Nội thời gian qua, nhiều chục năm chúng ta đã có quy hoạch, nhưng khâu thực thi, sự tuân thủ hay chuẩn hóa quy hoạch có thể chưa tốt cùng nhiều yếu tố khác, khiến suốt thời gian dài thành phố chưa triển khai được hiệu quả. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã có những chuyển biến rất lớn. Nếu tiếp tục duy trì đà thực hiện quy hoạch như vậy, thành phố chắc chắn sẽ ngày càng khang trang, đẹp đẽ hơn.
Chuyển đổi số hay quản trị dữ liệu cũng tương tự. Nếu chúng ta làm tốt những nội dung cốt lõi như đã trao đổi từ đầu buổi, thì bản thân điều đó đã bao hàm cả quy trình và tạo ra một nền tảng bền vững. Đây là con đường duy nhất giúp chúng ta điều chỉnh, nâng cấp từ một đô thị lớn cho đến một hệ thống dữ liệu quốc gia quy mô khổng lồ dù vô hình.
Khi đã làm đúng ngay từ đầu: đúng về quy hoạch, đúng về thiết kế, đúng về công cụ và phương tiện, thì tính bền vững sẽ tự khắc được hình thành.
Bên cạnh đó, chúng ta cần có các vị trí đóng vai trò như Kiến trúc sư trưởng hay Tổng công trình sư. Tương tự như việc quản lý một thành phố lớn luôn cần người giám sát thường xuyên, một hệ thống dữ liệu quốc gia quy mô lớn khi đưa vào vận hành cũng đòi hỏi phải liên tục tuân thủ kiến trúc, quy hoạch và quy trình đã đề ra. Có như vậy, nó đã to đẹp rồi thì to đẹp hơn nữa, hệ thống đã tốt rồi sẽ tiếp tục phát triển tốt hơn nữa. Ngược lại, nếu lơi lỏng, thành quả sẽ rất dễ sa sút. Khi đã có nền tảng vững chắc, việc duy trì tính bền vững chỉ còn phụ thuộc vào việc nghiêm túc tuân thủ các nguyên tắc đã xác định.

Cán bộ cơ sở ở Thanh Hóa làm sạch dữ liệu đất đai để góp phần số hóa thủ tục hành chính liên quan lĩnh vực này.
Nếu chỉ được đề xuất một số vấn đề quan trọng nhất để bảo đảm Kế hoạch 05 thành công và tạo nền tảng cho chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn tiếp theo, ông sẽ lựa chọn những ưu tiên nào? Vì sao?
-Thay vì ba, tôi cho rằng chỉ cần tập trung vào 2 ưu tiên cốt lõi mang tính bản chất:
Thứ nhất, phải xác lập vị trí "Tổng công trình sư”, những người thực sự am hiểu toàn diện từ quy hoạch, thiết kế cho đến phương pháp triển khai, điều phối tổng thể cả chiến dịch.
Thứ hai, phải lựa chọn được những doanh nghiệp có đủ năng lực, trình độ và kinh nghiệm để triển khai các quy hoạch tầm nhìn này. Đây sẽ là những đơn vị giúp việc điều hành quốc gia trở nên hiệu quả, tạo tiền đề hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số. Khi quản trị dựa trên số liệu thực tế, tính khả thi sẽ cao hơn rất nhiều.
Đồng thời, đây cũng là cơ hội để hình thành các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Tôi đã nhiều lần khẳng định: Trong lĩnh vực công nghệ, nhìn ra toàn thế giới, không có doanh nghiệp công nghệ hàng đầu nào là doanh nghiệp nhà nước. Thời gian qua, việc chúng ta đi khác với quy luật chung của thế giới cũng là một lý do khiến hiệu quả chưa đạt như kỳ vọng. Thay đổi tư duy này sẽ tạo ra một thị trường năng động, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tôi tin rằng, nếu thực hiện được những điều tôi đã trao đổi từ đầu đến giờ, thì quá trình chuyển đổi số vốn chưa đạt được như mong muốn trong nhiều năm qua, dù hơn một năm rưỡi gần đây đã được triển khai rất quyết liệt, sẽ tạo được bước chuyển biến rõ rệt. Khi đó, mục tiêu đạt hiệu quả trong vòng 2–3 tháng như chúng ta đang đặt ra là hoàn toàn khả thi.
Cám ơn ông!
Ông Nguyễn Tử Quảng là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghệ Bkav, đồng thời đảm nhiệm vị trí Phó Chủ tịch Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA).
Ông là một trong những chuyên gia công nghệ thông tin hàng đầu tại Việt Nam, tiên phong trong lĩnh vực an toàn thông tin và an ninh mạng từ những năm 1990 khi còn là sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội. Dưới sự dẫn dắt của ông, Bkav đã phát triển từ một phần mềm diệt virus miễn phí thành Tập đoàn Công nghệ đa ngành, hoạt động mạnh mẽ trong các lĩnh vực an ninh mạng, phần mềm, chính phủ điện tử, sản xuất phần cứng thông minh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Không chỉ là một doanh nhân công nghệ, ông Nguyễn Tử Quảng còn được biết đến với vai trò chuyên gia tư vấn chiến lược cho nhiều dự án CNTT trọng điểm quốc gia. Ông là người kiên trì thúc đẩy và đóng góp quan trọng trong việc đưa tư duy "Lấy dữ liệu làm trung tâm" (Data-Centric) và kiến trúc tổng thể vào Khung kiến trúc Chính phủ điện tử/chính quyền số Việt Nam, góp phần định hình phương pháp triển khai chuyển đổi số bài bản, hiệu quả và bền vững.